Để thực hiện tập san ĐL 2007 cũng như ghi lại chút kỷ niệm cá nhân cho bạn bè thân hữu cùng đọc nhân dịp họp mặt Retrouvailles 2007 sắp tới, xin mời Anh hay Chị vui lòng trả lời 1,2 hay tất cả các câu hỏi dưới đây do nhóm Biên Tập đặt ra trong nhiều đề tài, dưới hình thức 1-3 trang viết khổ giấy A-14, gửi về cho Đất Lạnh càng sớm càng tốt nhưng không quá 10/07/07.
Các câu hỏi:
1. Từ ngày rời Laval đến nay 2007, xin Anh hay Chị cho biết những thay đổi trong cuộc sống của Anh hay Chị cùng với gia đình, như vẫn ở lại Québec hay đã rời sang các thành phố (quốc gia) khác do công việc làm ăn đòi hỏi.
Nếu còn ở lại Québec, thành phố đó đã thay đổi ra sao và bây giờ nhìn lại mình và gia đình sau mấy chục năm, Anh hay Chị có thể chia xẻ các kỷ niệm lớn trong cùng thành phố đó theo thời gian?
Nếu đã rời Québec đến các nơi khác kể cả Việt Nam, xin Anh hay Chị kể lại chút kỷ niệm cùng công việc trong những thành phố hay quốc gia mới đó và nhìn lại thời gian qua, xem Québec còn đọng lại chút gì trong tâm tư?
2. Xin Anh hay Chị cho biết những thay đổi về công việc làm trong thời gian dài vừa qua so với ngành học chọn lúc đầu ở Laval, và rút ra được kinh nghiệm gì cho các thế hệ đàn em? Nếu Anh hay Chị đã từng đổi nghề, mong được đặc biệt chia xẻ với Anh hay Chị về kinh nghiệm đó!
3. Nếu Anh hay Chị đã có dịp về thăm hay làm việc ở Việt Nam, mong được chia xẻ kỷ niệm của các chuyến về đó!
4. Nếu Anh hay Chị có kỷ niệm đặc biệt về một người bạn cũ ở Laval cần lưu lại, xin cứ ghi lại vài dòng đó!
Xin cám ơn các Anh Chị.
Đính kèm : Tài liệu về một nghiên cứu... Xin bấm vào đây để có thêm chi tiết
(Thắc mắc của người phụ trách Web: Không biết anh Chí (Dương Tâm) có ngụ ý gì chăng khi đính kèm tài liệu này với mục phỏng vấn cho ĐS Đất Lạnh 2007?... Mời các anh chị và các bạn tham khảo và nếu muốn, có thể bình luận và góp ý trực tiếp vào Blog.)


7 nhận xét:
Trả lời phỏng vấn của anh Nguyễn Duy Vinh (Class of 1970, Université Laval)
Những tâm hồn cao thượng
Nhân dịp họp mặt Laval 2007, tôi cũng muốn ghi lại một kỷ niệm nhỏ nói về lòng tốt của người Gia Nã Đại. Sự kiện xảy ra trước khi chúng tôi rời Việt Nam và sự kiện này vẫn còn ghi sâu vào ký ức tôi.
Chuyện này xảy ra đúng hôm chúng tôi lên đường đi du học Canada. Hôm đó 12 sinh viên Việt Nam chúng tôi ăn mặc chỉnh tề và có mặt từ sáng sớm ở phi trường Tân Sơn Nhất. Máy bay của những học sinh du học Plan Colombo thời đó là của hãng Cathay Pacific. Thời điểm là vào khoảng giữa tháng tám năm 1966…
Gương mặt chúng tôi hôm đó có thể gọi là hí hửng nhưng cũng thoáng những nét lo âu. Hí hửng vì vui mừng sắp được đi học ở nước ngoài. Lo âu vì đây là một chuyến đi quan trọng, không biết được tương lai có gì đang chờ đón và vì chắc cũng có linh tính là mình sẽ lâu lắm mới gặp lại những người thân còn ở lại quê nhà. Trong trường hợp tôi thì sự lo âu này lại càng đúng hơn vì mẹ tôi lúc đó đã gần 70 (và cụ đã mất trong thời gian tôi còn đang học ở Laval)…
Đúng giờ hãng máy bay cho hành khách lên phi cơ, chúng tôi nhận được một tin “hãi hùng”: hãng máy bay từ chối không nhận một sinh viên nào của nhóm đi Plan Colombo. Chúng tôi vô cùng sững sốt. Lý do họ đưa ra thật đơn giản: sổ thông hành của chúng tôi thiếu hai chữ: “via Hongkong” và máy bay phải đáp ở Hồng Kông. Họ đề nghị chúng tôi đem thông hành lên Tổng Nha Cảnh Sát để xin gấp hai chữ này và họ sẵn sàng cho chúng tôi đi chuyến bay ngày hôm sau. Một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để có hai chữ này nhanh chóng khi ai cũng biết là thủ tục hành chánh Việt Nam lúc bấy giờ rất phức tạp. Không hiểu sao lúc đó một đứa nào trong chúng tôi đã nghĩ đến việc đi cầu cứu phái đoàn Gia Nã Đại (Canada là một trong những nước có chân trong Uỷ Hội Kiểm Soát Đình Chiến tại Việt Nam lúc bấy giờ, còn được viết tắt là CIC) và một số bạn đề cử tôi đại diện nhóm chúng tôi đi gặp ông chủ tịch Phái Đoàn Gia Nã Đại và đề nghị này đã được cả nhóm đồng ý. Có thể các bạn nghĩ là tiếng Tây tiếng Anh của tôi tương đối đầy đủ cộng thêm cái tính nhanh nhẩu của tôi.
Một mình một ngựa, tôi bắt vội chiếc tắc xi và nửa tiếng sau, tôi đã có mặt tại căn biệt thự nguy nga của ông Martin Collacott, người chỉ huy phái đoàn Canada, toạ lạc tại khu Ngã Sáu Sài Gòn.
Tôi bấm chuông và một vị cận vệ to lớn (có vẻ là người Ấn) bước ra hất hàm:
- What do you want ?
Sinh viên Vinh nhỏ bé không biết khép nép (lúc đó hình như mình không biết sợ vì mình chỉ nghĩ đến việc quan trọng của mình), đã trả lời dõng dạc:
- Sir, I would like to see Mister Martin Collacott. I represent the Vietnamese students, Colombo Plan students
- Do you have an appointment with him ?
- Well, uh…, no Sir , but this is an urgent matter…
- You need to have an appointment
Trong lúc ông cận vệ này sắp sửa đuổi tôi thì tự nhiên Trời Phật phò hộ hay sao ấy (chắc là phải có Trời Phật bạn nhỉ) tôi không biết, ông Collacott đứng bên trong đã nghe hết cuộc đàm thoại này của tôi và ông cận vệ và ông bước ra nói:
- Let him in please.
Thế là tôi được mời vào trong nhà và lúc đó khoảng gần 10 giờ sáng. Đây là lần đầu tiên tôi được vào và thấy tận mắt một dinh thự nguy nga, thú thật thì tôi cũng rất khớp (chắc lúc đó tim tôi cũng đập rất nhanh) vì tôi lớn lên trong một gia đình trung lưu không nghèo cũng không giàu, nhưng đây là lần đầu tôi diện kiến một sự nguy nga lộng lẫy. Ông Martin là một người đàn ông đẹp trai, ông như một tài tử đóng phim Mỹ (một típ Cary Grant), ăn nói nhã nhặn từ tốn với một gương mặt nghiêm nghị làm tôi lại càng khớp hơn. Tuy nhiên tôi cũng lấy lại bình tĩnh rất nhanh và giải thích cho ông cặn kẽ những gì đã xảy ra. Và ông đã lấy quyết định thật nhanh chóng và nói tôi ngồi chơi uống nước đợi ông đi thay quần áo và sẽ đưa tôi lên Tổng Nha Cảnh Sát.
Các bạn có thể tưởng tượng một chàng sinh viên Việt Nam lần đầu tiên được ngồi xe Peugeot 404 sơn đen có cờ CIC và có tài xế lái. Như là một giấc mơ…
Nửa giờ sau chúng tôi đến Tổng Nha và được Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Loan (lúc đó ông Loan hình như vẫn còn là Thiếu Tá) tiếp đón. Ông Collacott trình bày vấn đề và ông Loan bảo tôi đem thông hành xuống ngay để lấy hai chữ “via Hongkong” do chính tay Bác Sáu già (chúng tôi không biết tên của Bác này cứ gọi tạm là Bác Sáu già) viết thật là đẹp và thật là trau chuốt như là một loại thư pháp của các thiền sư.
Mọi việc xong xuôi thật nhanh chóng. Tôi quay về lại phi trường để thông báo và trao lại thông hành cho các bạn.
Sáng sớm hôm sau máy bay cất cánh rất sớm. Chúng tôi tề tựu ở phi trường từ sáu giờ sáng. Thân nhân gia đình bè bạn có mặt đầy đủ. Và chúng tôi vô cùng ngạc nhiên và cảm động vì lần này có mặt hai người Gia Nã Đại, đó là ông Martin Collacott và ông P. Sullivan (ông này hiện nay đã về hưu, ông đại diện Plan Colombo tại VN lúc đó).
Thời gian thấm thoát trôi qua và mãi đến năm 2006 tôi mới có dịp biết được tin tức của ông Collacott qua một người bạn. Và tôi đã liên lạc được với ông, tôi đã viết cho ông những dòng chữ chân thành cám ơn ông đã giúp và nói với ông chúng tôi không bao giờ quên nghĩa cử dễ thương này.
Hiện nay ông Collacott đã về hưu và ông sống ở Vancouver. Vợ ông, chị Tuyết, là người Việt Nam và hai ông bà có hai đứa con trai hình như cũng đã học xong đại học.
Trong cuộc đời nếu may mắn thỉnh thoảng chúng ta lại gặp những tâm hồn cao thượng như thế.
Nguyễn Duy Vinh (Class of 1970, Université Laval)
Trả lời Phỏng vấn cho Đặc San Đất Lạnh 2007 của anh Bùi Văn Tâm, niên khóa 63.
Trước hết chúng tôi xin cám ơn anh Phạm Đỗ Chí cùng Ban biên tập Đặc San Đất Lạnh 2007 đã có sáng kiến mở ra mục “Lưu Bút Ngày Xanh” để cho chúng tôi có dip tha-hồ “múa bút” và viết lung-tung những kỹ-niệm của Ngày Xanh, cùng với những Ngày không còn Xanh.
1) Chúng tôi rời thành phố Québec vào mùa thu năm 76 để trở lại dạy học tại CEGEP Chicoutimi, và tìm lại quê hương thứ ba của tôi sau hơn 3 năm xa cách. Tới năm 80 thì tôi chuyển sang dạy tại Đại học Québec à Chicoutimi, dạy các môn Hóa-học.
Năm năm sau, vì đã ớn leo đèo vượt núi đồi của Parc des Laurentides, nên đến hè 85 thì chúng tôi rời Chicoutimi để đến dạy học tại trường Đại học quân sự hoàng gia Canada tại Kingston, Ontario, và chấp nhận nơi này làm quê hương thứ tư. Tôi còn nhớ ngày xưa lúc mới tới thành phố Québec, đa số chúng ta đã trãi qua một «cú choc» về mọi phương diện, giờ đây hơn hai mươi năm sau chúng tôi lại qua thêm một «cú choc» nửa khi đặt chân đến Kingston, một thành phố Ang-lê chính hiệu con nai vàng. Kingston, cửa ngỏ của Ngủ- Đại-Hồ, được mệnh danh là thủ - đô c ủ a Ngàn Đảo (Thousand Islands). Thật ra thì có hai thành phố khác nhỏ hơn (Brockville và Gananoque) củng đều tự nhận là thủ-đô của Ngàn Đảo: thôi thì cho hết cả ba thành-phố này làm Co-Captains của Ngàn Đảo « cho tiện việc sổ sách và vui-vẽ cả ba làng*». Một trong những Đảo lớn nhứt của Ngàn Đảo là « Đảo Chó Sói » (Wolf Island), lớn rộng hơn Cù Lao Rồng của ông Đạo Dừa ở bên cạnh tỉnh lỵ Mỹtho của tôi, những ngày xa xưa ấy. Đã nhiều lần tôi có dịp đi cruises để hóng gió và đếm xem có còn đúng một Ngàn Đảo hay không, kể cả những hòn Đảo thật nhỏ chỉ mọc lưa thưa vài « cây tràm ». Nhưng đếm đi đếm lại mà vẩn chưa tới một ngàn, tôi nghỉ có thể một số Đảo nhỏ đã bị soi mòn theo năm tháng và củng có thể một số đã không thích ở nơi đây nửa và đã khăn gói đi chơi chổ khác. Những năm đầu tiên tới Kingston chúng tôi đã có dịp tiếp xúc và quen biết một số rất đông những anh chị em sinh viên Việt-nam ở Đại hoc Queen’s, bạn láng giềng của trường Đại học Quân sự của tôi. Mot điễm rất ngạc nhiên và thích thú là đa số các bạn trẻ này còn giử được một tâm-hồn rất là “Mít”, và rất thông thạo văn-hóa Việt nam. Và đây củng là dịp cho chúng tôi được tham gia các hoạt động thể-thao, văn-hóa của hội sinh viên, với một tinh thần rất là sinh viên củng giống như hai mươi năm về trước khi chúng tôi còn ở Québec.
2) Về chuyện ngành nghề thì tôi được may-mắn để hành nghề với cả hai ngành khác nhau: đó là các ngành Hóa-học và Kỹ-sư Hóa-Học. Hai ngành này mới nghe qua thì tưởng như là một, nhưng thật ra thì rất khác nhau. Theo như các anh chị đồng-môn đều biết, ngành Kỹ-sư Hóa-Học của Bắc-Mỹ nó rất ư là “thực-dụng” với những môn học mang nhiều bản chất “cơ-khí” (thật ra sau này khi đã có nhà có cửa rồi thì tôi mới có dịp để “cảm-khái” mấy cái Lab. về Transferts hay Thermo. cùng với mấy môn học của Génie chimique). Bởi vậy sau nhiều năm dạy các môn Hóa-học ở CEGEP và Đai học Chicoutimi, tôi lại có dịp trở về với nghề thứ nhứt khi tôi mới bắt đầu học ở Laval, và tôi lại có dịp nhắc nhở với các học trò của tôi về những vị giáo-sư tiền bối của Génie chimique như các ông Cholette, Grenier, Cloutier, Blanchard, Roy, Ramalho… với tất cả niềm hảnh diện về Đại học Laval của chúng ta.
3) Kỹ niệm về thành phố Québec củng như Đại học Laval thì vẩn đầy ấp trong tôi. Sau đây tôi xin ghi lại một vài kỹ niệm về thể-thao trong thập niên 60 cho tới cuối mùa hè 70 (xin lổi nếu phải “dzẩm” chút xíu lên chưn của hai anh Trương Phục Quốc và Dương Tâm Chí, vì hai anh này được coi như hai “đại-sứ-giả” của Đại học Laval và thành phố Québec). Trước hết, tôi xin kể một sự việc khó tin mà chắc củng không thể là thiệt:, đó là nơi chốn và thời điễm phát xuất ra phong trào “Beach Volleyball” rất thịnh hành thời nay. Các bạn có tin là chính sinh viên “Mít” chúng ta đã phát minh ra môn này với cai tên nguyên-thủy là “Parking Volleyball” hoặc là “Asphalt Volleyball”vào giửa thập nien 60 tại Parking của Pavillon Pollack (với hai trụ xi-măng to tổ-chảng cùng với hai cột bằng sắt dùng để giăng lưới và lằn ranh của sân là ba chổ đậu xe). Vào những trưa hè nắng đẹp, sinh viên chúng ta đã thi đấu bóng chuyền rất sôi-nổi hào-hứng, đánh banh theo kiểu solo, đánh đôi, đánh ba, tư, năm, sáu, bảy…và thường có màn cá độ dưa-hấu, nước ngọt, rất ư là xôm trò. Và củng trong thời điễm này chúng ta đã sáng chế ra một tuyệt chiêu cho bộ môn bóng chuyền, đó là chiêu “xì-mách Lobster”. Cho đến bây giờ... coi như chiêu này đã thất truyền. Củng may chớ nếu không thì mấy tay nhà nghề mà học được chiêu này chắc chắn họ sẽ thua xiểng-liểng.
Đến khoảng hè 68 thì “Parking Volleyball” coi như dẹp tiệm và được dời vô Gym. của Grand Séminaire để luyện tập; và đội bóng chuyền Québec đã ra quân thi đấu lần đầu tiên với đội Montréal, hình như vào mùa đông năm 70. thì phải? Chắc các anh Cơ, Huy, Chuyết…còn nhớ rỏ hơn tôi. Và đây củng là khởi điễm để dẩn tới hai “Tiền Đại hội thể thao Bắc Mỹ”. Lần thứ nhứt là vào cuối tháng năm 70 tại Québec với hai đội Québec và Montréal, tranh tài trong ba bộ môn: bóng bàn (sous-sol Parent), đá banh (sau Pav. Lemieux) và bóng chuyền (YMCA ). Tiếp theo đó thì các anh chị em sinh viên của Đại học Sherbrooke đã tổ chức lần thứ hai vào gần cuối tháng tám 70 với ba đội Sherbrooke, Québec, Montréal, thi đấu trong ba bộ môn kể trên cộng thêm môn badmington và tennis toàn đội mà đội Québec đã tạo nên một “upset” lớn nhứt của thế-kỹ 19, 20 trong bộ môn tennis của giới sinh viên!
4) Nhắc đến chuyện thể-thao, tôi lại nhớ tới những năm tháng đầu tiên mới đến Laval. Tôi, anh Lê Khắc Huy, và anh Trần Bữu Long, cả ba chúng tôi cùng ở Pavillon Moraud, sau khi cơm nước, bánh mì, patates ở Pollack xong, chúng tôi hay tụ-tập ở sous-sol Moraud để dánh ping-pong thâu đêm cùng các anh sang năm trước như anh Cơ, Giao, Kim, Kỳ-Toàn, Viễn, Vĩnh- Anh…Những kỹ-niệm thật xa-xưa mà khó quên, ngoảnh mặt lại đã gần nửa thế-kỷ! Đã từ lâu, sau khi rời Laval, tôi không đeo đồng hồ nửa cho nên « thời gian đã như ngừng trôi** ».
Bùi Văn Tâm, niên khóa 63.
* Cụm từ này nhà báo Trường Kỳ thường hay xài.
** Lời của một bản nhạc.
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CHO ĐẤT LẠNH 2007 CỦA ANH TRẦN MINH DŨNG
I left Quebec City in 1973 to work for a Consultant Engineer in Montreal. I say “I left” but can one “really” leave a place that holds such an important part of one life – the friendships, the parties, the sports, the romances, …. and yes, of course, the academics too. So I never really left – or if I did, Quebec stayed in my heart and has always accompanied me since.
In the first year(s), I was commuting and Montreal was just a short workweek destination. I “nested” in “anh Minh / chi Hieu” (my cau / mo) salon and came back to Quebec every weekend – Friday night to Monday morning. Very soon after, many friends joined, our “circle” made it to Montreal and Montreal became Quebec. Thua was my 1st “buddy” – we were co-worker (co-sufferer – should I say?) at the same “basement type” WASP Consulting Engineer. I still remember that period quite vividly and often tell the story when I am invited to speak about Employment Equity or Discrimination.
Mr Duong, Mr Cong, Mr Nghi, Mr Toan, Mr An (Chung), Mr Cuong (3 dau rua), Mr An (giao mom), Mr Phi, Mr Tan (giao gian), Mr 8, Mr Tung ghien, Mr Kiet (Thon danh) ….
(Mr Duong: pls help with this list; the names and may be a short anecdote? from our time in VanHorne /Barclay, Longueuil, Montreal, … ) …
also made it to Montreal (the Quebec Fort Murray of the time) and we again had a fabulous time in our new transformed Quebec City: the parties were even more “lively” (thanks to Mr Duong and his connections with our Navy officers); the food tastier (thanks to Mr Toan for continuing to organize our weekly group dinners at China town) and the hotter Wednesday night “adult shows” afterward (thanks to Mr Giao Mon enthusiasm). St-Hyacinthe was also part of our “new and improved” Quebec – thanks to anh Trung / chi Hanh hospitality in treating us with weekend long eatery.
Several “challenging” jobs and “broken hearts” after my 1st move to Montreal …. I found out that Quebec was also the Vietnam that I thought I had left in 1968 and lost in 1975; and Paris (where I was born) too, as a matter of fact. I re-discovered Vietnam in my family expats, in the tiem pho, the tiem bun, the banh cuon chui, … the Little Saigon, the Hollywood nightclub with Khanh Ha and the Spotlights, … the phong tra in Washington DC with ca si Kim Anh and its famous banh mi thit, … and the awesome “con gai vn” (chutt !!!). I married one: Xuan Mai – my wife of 20 years now – was one of those bright shining stars (for me she was the brightest – well, we know that beauty is in the eyes of the beholder). We have 2 wonderful (again, in my view) daughters: Nang Mai and Mac Hanh and we now “happily” live/work/study in Ottawa.
Much of course happened during those 20-30 years of my life and the most noteworthy (happy) event was the re-discovery of my Buddhist roots thru Zen Master Thich Nhat Hanh who was my grand-ma teacher in the 60’s.
Breathe, you are alive! The past has already gone; the future is yet to come; life only exists in the present moment. Don’t worry, be happy.
This simple teaching has brought about a new (for me) way to look at life – with much more joy, love and gratitude to everything and everyone and a deep appreciation of peace and calmness. Embracing this teaching has allowed me to connect with Lang Cay Phong – a “cool” group of Vietnamese students of Thay Nhat Hanh – that I had the honour to actively serve and help lead for 6 short years. I am now engaged as a dharma teacher for the Montreal Mindfulness Practice Center and am happily traveling the US to share Thay Nhat Hanh teachings with American Buddhists.
I also wish to mention my 25-year service with the Federal Public Service where I currently serve as Project Manager of the Canadian Forces Health Care Reform Project. As the highest-ranking civilian employee of a 4000 (50/50 military and civilian mix) strong health care providers and support staff organization, and as their Diversity and Employment Equity champion, I am a front line witness of the efforts of the Canadian Forces and the Federal Public Service to attract and recruit Visible Minorities with the creation of opportunities that – unfortunately – are “looked down” by most of our younger professionals who are out there looking for “challenging careers”. To their address, I will quote Dr Nguyen, a young Vietnamese military lady physician in our group now serving in Kandahar: “I could not see myself spending the rest of my life in that clinic in Victoria; there must be better ways for me to serve the people of Canada and the world with my expertise.” And serve, she does, like the 80 000 members of the Canadian Forces and the 250 000 Public Servants every day and night to make a difference and keep Canada as the land of our choice – for ourselves and for our descendants. There IS a life in the PS and the CF; come and taste it for yourself.
Mr Duong: this is what Dr Nguyen wrote when I asked her to edit the above paragraph; do you agree with it? You write so eloquently that there really isn't much for me to change in your address. It is very power written as you have written it. It conveys the sense of purpose that so many of us are searching for, especially those who have worked so hard their whole lives to reach a goal. And then when they finally get there, they realize that there has to be more to life than making money. That success in life does not always equate to making lots of money. Those that are searching for that want of being a part of something bigger than themselves will hear your message. Those that do not want to be a part of a larger purpose... well, there isn't much that can change their minds unless they reach that crossroad of life themselves.
So very sorry to miss the retrouvailles and Quebec City birthday. I am sure that everyone will have a fabulous time. Please do be careful though … save your voice and energy to last and enjoy the whole weekend. And do not abuse on Red Bull and the Blue Pill (not good for your heart)!
We will be in Vietnam for the first time. I am looking forward to it and will report on the next Dat Lanh for retrouvailles 2008 (?) (kudoos and a plea to anh Dinh, anh Trung, Mr Duong and …
(others I should mention ?) …
the whole ban to chuc: please make it happen again soon … as we may not all be able to attend on our feet much longer … smiles and heartfelt thanks.).
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA ANH LỘ CÔNG MƯỜI LĂM
Hello anh ChiToi xin phep tra loi phong van cua anh nhu sau:
1. Từ ngày rời Laval đến nay 2007, xin Anh hay Chị cho biết những thay đổi trong cuộc sống của Anh hay Chị cùng với gia đình, như vẫn ở lại Québec hay đã rời sang các thành phố (quốc gia) khác do công việc làm ăn đòi hỏi.
Toi van con o lai Quebec.
Nếu còn ở lại Québec, thành phố đó đã thay đổi ra sao và bây giờ nhìn lại mình và gia đình sau mấy chục năm, Anh hay Chị có thể chia xẻ các kỷ niệm lớn trong cùng thành phố đó theo thời gian?
Trong 47 nam song tai Quebec, toi da chung kien nhieu thay doi rat lon tai thanh pho Quebec: Thanh pho mo rong rat nhieu. Duong sa nha cua va "ha tang co so" tang len gap 10. Doi song dan Quebec cung thay doi rat nhieu. Cach doi xu voi nguoi ngoai quoc rat la khac xua, nhat la sau Super Francofete 1974. Dai hoc Laval cung thay doi va mo mang them nhieu lam, chu ngay toi moi den day la phai di hoc den 3 noi. Luc do thi thuong ngay chung toi di hoc tai "faculte des sciences" tai boulevard de l'Entente (hien gio mot phan la CEGEP Garneau). Co vai cours phai vao campus (Noi DH Laval bay gio). Toi con nho toi phai di hoc lop allemand tai Quartier Latin (faculte des lettres con o do).
Chung toi, hoi moi den o tai residence des etudiants (pavillon Moraud). Co nguoi o tai khu duong Garnier, Vimy, Eymard cho gan boulevard de l'Entente. Co mot hom, sang som tu residence, chung toi xong pha duoi bao tuyet de den boulevard de l'Entente, nhung luc den noi thi truong dong cua vi bao tuyet qua lon! The la chung toi phai loi bo tro ve campus. Tren chemin Ste foy thi tuong doi de di. Den nga ba dau duong Seminaire thi than oi tuyet bay mit mu va duong bi tuyet phu lap len gan toi nguc! Dung do nhin thay mo mo pavillon moraud o dau kia duong ma chung toi "ron xuong song" vi khong biet co the nao di ve den do khong! Hom do chung toi ba nguoi di chung: anh Vo ngoc Ba, mot anh nua va toi. Chung toi nho co "botte aviateur" di tuyet khong lanh chan. Di mot khoang thi toi thay mot antenne xe, loi len thi toi moi biet la toi dang dap tren mui mot chiec Volkswagen!
Vua den Faculte de Commerce (Sciences de l'Administration bay gio), chung toi phai vao do tron gio. Ban tinh voi nhau mot hoi thi co mot anh de nghi la "trong ba dua minh neu chang may co dua nao nga quy xuong thi hai nguoi kia phai tiep tuc chu khong nen ban biu cho nhau ma chet ca ba!"...
Ngay nay moi lan lai xe qua do la toi nho lai chuyen nay. Toi khong hieu tai sao hoi do,di toi di lui trong campus ma kho khan nhu vay. Chung toi phai mua jeton d'autobus de di tu cho nay qua cho khac. Toi con nho co lan di tu pavillon Moraud sang faculte de Foresterie hay qua Gymnase (medecine dentaire bay gio) anh Nguyen Huu Ty phai lay foulard che mieng va mui lai khi di qua khoang dat trong truoc Faculte de medecine, vi gio manh den noi khong tho noi! Bay gio thi voi cac tunnel giua cac pavillon thi chuyen do khong con nua. Nguoi ta lai noi la "co mot so sinh vien, thang septembre don vao residence voi vai bo pyjama va moi ngay di hoc theo duong ham khong can phai manteau hay botte gi ca!!!"
Do la mot chuyen vui vui. Va sau day la mot cam nghi cua toi.
May hom nay toi tim lai bo "bao Dat Lanh" cua toi dang o trong thung ma tu khi don nha 4 nam truoc toi khong biet no o dau. Toi van con giu cac so bao Dat lanh dau tien tu nam 1962. Doc lai so 2 Dat Lanh (1963) thi moi thay la trong so do toi co viet bai "Nguyen tac may tinh Dien tu". Hoi do toi hoc genie nhung it khi nao noi den nganh informatique. Sau khi lay bang ky su, toi lai hoc tiep M Sc va Ph D ve genie. Toi nghi la cung se di lam cho Hydro Quebec, Davie Ship Building hay Alcan vi luc do toi co offre cua cac hang nay. The ma nam 1970 DH Laval nho toi thanh lap Departement d'Informatique. Vai nam sau toi lai thanh lap Association canadienne de l'Informatique/Section de Quebec va lam president nam 1974. Sau do toi lai co dip thanh lap Federation de l'Informatique va lam president nam 1980 ( luc ma Quebec dang phat trien manh ve technologie de l'information voi chuong trinh "Batir le Quebec: virage technologique".
Hon 3 thap nien day ve Informatique, trong cac chuong trinh "Hop tac Quoc Te" hay Francophonie, toi cung co dip di cac nuoc Phap, Bi, Thuy si, Mali, Tunisie, Trung Quoc, Uc, Bresil, Uraguay, Argentine va Viet Nam de hop tac trong cac projet de recherche hay giup ho mo cac chuong trinh day hoac mo truong day Informatique.
That toi khong ngo la tu ngay toi viet bai ve "may tinh Dien tu" den nay la hon 44 nam roi.
Thoi cung kha dai roi. Neu anh can them chi tiet gi nua thi email hay phone cho toi nha.
Than men.
Lo Cong Muoi Lam.
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA ANH NGUYỄN BÌNH
Như nhiều bạn khác, sau khi tốt nghiệp Laval vào năm 1975 hãng sản xuất bia Molson đã tuyển chọn tôi vào chương trình huấn luyện.Trong khi tôi sẵn sàng đi mọi nơi vì không bận bịu về gia đình thì công ty lại gởi 3 người Québécois chính hiệu đi Alberta, Ontario, Newfounland và giữ tôi lại Montreal.
Trong mấy tháng đầu làm việc tại Montreal, chiều thứ sáu nào tôi cũng lái xe thẳng từ sở về Laval, trở lại Montreal vào chiều Chủ nhật cho đến khi có … bồ ở Montreal !
Un. Laval và Cité universitaire vẫn nhắc lại nhiều kỷ niệm thời “hàn vi”. Từ 30 năm nay bạn bè mỗi khi gặp nhau đều kể lại các kỷ niệm này.
Thật ra, thúc đẩy từ phía gia đình là yếu tố chính chứ chọn ngành du học Canada từ Việt Nam lúc mới 18 tuổi đối với thanh niên Việt Nam thời 1970 là chuyện viển vông.
Giáo dục đại học giúp cho mình đạt kiến thức căn bản, sau đó phải tự đào tạo. Tôi tốt nghiệp về điện (Génie électrique) nhưng chỉ làm việc liên quan đến ngành này trong 5 năm và ngay cả trong thời gian này cũng thấy là kiến thức thâu nhập từ trường Laval chưa đáp ứng vào công việc. Tôi học thêm buổi tối về MBA trong khi làm việc kỹ sư ban ngày và sau khi tốt nghiệp MBA thì chính thức bỏ luôn ngành kỹ sư.
Tuy nhiên, có bằng chứng là quá khứ “kỹ sư” đã là yếu tố quyết định khi tôi được tuyền chọn làm một số công việc về quản lý (gestion)
Tóm lại, cuộc đời đưa đẩy khó lường nhưng có bằng đại học trong tay (không phân biệt ngành nghề) để tự lập, trưởng thành và nắm bắt cơ hội là điều rất quan trọng. Một khi có khả năng tài chính thì có thể học cao hơn hoặc học về ngành khác nếu muốn đổi ngành.
Một số công việc của tôi tại Montreal có liên hệ với Á châu và Việt Nam. Tôi tham dự vào một số công việc tại Việt Nam từ năm 1990. Tôi có vài nhận xét chung như sau:
• Mặc dù ít khi gặp mặt, tình cảm bạn bè, gia đình, họ hàng Việt Nam lúc nào cũng gắn bó hơn so với dân Canada.
• Nếu Việt kiều không về thăm và làm việc với Việt Nam thường xuyên thì sự cách biệt về văn hoá (cách đối xử, cách làm việc, cách suy luận, v.v.) ngày càng lớn và trở thành rào cản mặc dù cùng ngôn ngữ.
• Vì nghèo và chậm tiến nên người dân Việt Nam rất lạc quan. Ngược lại, Việt kiều như tôi về làm việc với Việt Nam thì không tránh được cảm giác bất mãn vì thấy quê hương mình vẫn ỳ ạch và không biết đến đời nào nước mình mới theo kịp nước người trong khi có rất nhiều người Việt thành công khắp thế giới.
Một điều thoả mãn cá nhân là tôi đã có cơ hội đi du lịch, gặp nhiều sắc dân và thưởng thức nhiều món ăn khắp nước Việt Nam kể cả các vùng hẻo lánh và khó khăn. Có lẽ 10 năm nữa thì e rằng không còn đủ sức khỏe để … lết đến đấy !
NGUYỄN BÌNH
Génie électrique
Université Laval 1972-1975
PHỎNG VẤN CHO ĐẤT LẠNH 2007 - kèm theo bảng tiếng Anh
(Trần Minh Dũng - người dịch: Dương Tâm Chí)
Tôi xa Québec vào năm 1973 để làm việc cho một hãng Consultant Engineer ở Montreal. Tôi xài chử "xa" vì có ai nở "thật sự" rời bỏ một nơi chốn đã cưu mang những chuyện quan trọng của cã đời mình, nào là bạn bè, "mụt nhọt", rồi thể thao đến những cuộc phiêu lưu tình cãm,…và dĩ nhiên có cả chuyện học hành nửa. Nói như vậy thì coi như tôi chưa hề "thật sự" lìa xa, dẩu cho có đi nửa thì Québec vẫn nằm trong lòng tôi và mãi mãi theo chân tôi trên vạn nẽo đường đời.
Vào những năm đầu, tôi như một con thoi, và Montréal chỉ là một điễm đến để làm việc trong tuần. Tôi "làm ổ" ở salon của Anh Minh/Chị Hiếu (Cậu mợ của tôi). Thời gian này, tôi trở về Québec mỗi cuối tuần - Từ tối thứ sáu cho đến sáng thứ hai. Sau đó không lâu, bạn bè nối gót theo tôi khá đông, phe ta di tản về Montréal và Montréal đã biến thành Québec. Bạn Thừa là bạn đồng hành đầu tiên của tôi. Chúng tôi trở thành bạn đồng nghiệp (hay bị đi chung một xuồng?) cho hãng WASP Consulting Engineer, một hãng thuộc loại "xóm nhà lá". Tôi vẫn nhớ như in khoảng thời gian này và hay thường nhắc lại mỗi khi tôi được mời lên thuyết trình về những đề tài liên quan đến sự bình đẳng trong công việc làm hay vấn đề kỳ thị.
Lần lượt, các bạn Chí mập, Công Gù, Năm Lô (Nhi), SáuToàn, Ân Lãi, Cương 3 đầu rùa, Giáo Móm, Phi, Giáo Tấn tự Giáo Gian, Tám Nghiêm, Tùng Ghiền, Chú Hiệu, Năm Kiệt (Chú Thòong Dành)..cũng lục tục kéo quân về Montréal (Tổ tiền đồn Murray của Québec thời bấy giờ) và chúng tôi lại tiếp tục cuộc vui với thành phố “Tân Québec” này; những “mụt nhọt” càng ngày càng thêm sống động (Cám ơn Chí nghe, đã giúp phe ta nối vòng tay lớn đến những bạn Hải Quân); thức ăn ngày càng thêm ngon (Cám ơn anh Sáu Toàn đã có công tổ chức những chuyến “du thực tập thể” mỗi tuần ở phố Tàu) và những tối thứ tư nóng bỏng với những màn hậu “chương trình mát mẽ” (Cám ơn sự hăng say và nhiệt tình của Giáo móm). Thành phố Ste-Hyacinthe cũng trở thành chi nhánh của làng “Tân Québec cải tiến” của phe ta, cám ơn anh Trung chị Hạnh đã nhiều lần nuôi quân nguyên cã cuối tuần.
Trải qua nhiều công việc làm "đầy thử thách" và "khối chuyện vỡ tim" sau lần đầu tiên tôi dọn lên Montréal…Tôi đã nghiệm ra rằng Québec cũng là nước Việt Nam của tôi khi tôi lìa xa năm 1968 và tôi bị mất đi năm 1975; cũng như Paris (nơi chôn nhau cắt rún của tôi), ….Tôi đã khám phá trở lại nước Việt-Nam qua những thân nhân lưu vong, những tiệm phở, tiệm bún, hàng bánh cuốn chui,….qua khu Sàigòn nhỏ, qua hộp đêm Hollywood với ca sĩ Khánh Hà và ban nhạc Spotlights,….qua phòng trà Bistrot ở Washington DC với ca sĩ Kim Anh với những ổ bánh mì thịt lừng danh,….và những cô gái Việt-Nam quá ư là tuyệt vời (Chutt !!!). Tôi đã lập gia đình với một cô: Xuân Mai, từ 20 năm nay giữ chức bà xả tôi - là một trong những ngôi sao sáng (Theo ý tôi thì đây là ngôi sao sáng nhất - Hẳn các bạn đã thuộc lòng câu "xấu đẹp tùy người đối diện" rối chớ). Chúng tôi đã có hai bé gái tuyệt vời (Cũng theo ý tôi luôn nghe) : Nắng Mai và Mặc Hạnh và hiện giờ thì chúng tôi cùng sống, làm việc và học hành "rất chi là hạnh phúc" ở Ottawa.
Nhiều chuyện đã xảy ra trong khoảng 20-30 năm của cuộc đời tôi nhưng chuyện đáng ghi nhớ nhất (chuyện vui) là tôi đã tìm lại được gốc rể Việt-Nam và Phật Giáo qua thiền sư Thích Nhất Hạnh, thầy của bà ngoại tôi vào thập niên 60.
Hít thở đi, bạn đang còn sống mà! Dĩ vảng đã qua rồi, tương lai thì chưa tới; đời sống chỉ thật sự có mặt trong giây phút hiện tại. Đừng lo nghĩ nữa, hảy vui sống đi.
Những lời giáo huấn đơn giản này đã mang lại một cách nhìn mới (cho tôi) về cuộc đời - với rất nhiều niềm vui hơn, yêu thương và trân quý mọi thứ, mọi người cùng với một lòng cãm kích sâu xa cái thanh bình và tĩnh lặng. Để được học hỏi và thực tập những lời giáo huấn này, tôi đã tìm tới, gặp và thương Làng Cây Phong - một nhóm đệ tữ rất "dể thương" của Thầy Nhất Hạnh, mà tôi đã được vinh dự phục vụ và hướng dẩn trong 6 năm ngắn ngủi. Hiện tôi đang là giáo thọ cư sĩ cho Trung Tâm Thực Tập Chánh Niệm ở Montréal và tôi rất hoan hĩ được dịp đi khắp nước Mỹ để chia xẻ và giảng dạy pháp môn của Thầy cho các Phật tữ người Mỹ.
Tôi cũng muốn nói đến 25 năm mà tôi đã phục vụ cho Federal Public Service nơi mà tôi đang giữ chức Project Manager cho The Canadian Forces Health Care Reform Project. Là nhân viên dân chánh cao cấp nhất trong một lực lượng khoảng 4000 nhân sự (chia đều 50/50 quân sự và dân chánh) của Cục Quân Y; với phương châm "Đa nguyên" và "Bình đẵng" trong công việc làm chuẩn, tôi đã cố gắng đứng mũi chịu sào để giúp sức cho Cục Quân Y quảng bá và tuyễn mộ những người thuôc thành phần sắc tộc và tạo cơ hội cho họ, nhưng rủi thay phần lớn các bạn trẻ có tay nghề chuyên môn đều "chê" vì họ đều đi mãi lo tìm những "công việc có nhiều thử thách" hơn. Để thuyết phục họ, tôi đã trích dẩn lời nói của Bác Sĩ Nguyễn, một nữ bác sĩ quân y trẻ làm việc trong nhóm chúng tôi, hiện đang phục vụ tại Kandahar: " Tôi không thể nào nghĩ rằng tôi sẽ có thể ở làm việc tới già trong một dưởng đường nào đó tại Victoria; đối với tôi, phải có nhiều cách hữu ích hơn để phục vụ quần chúng Canada và thế giới bằng nghề chuyên môn và kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi muốn được trở thành một phần tử của một cái gì đó to lớn hơn cái tôi và được dịp phục vụ". Khi nói phục vụ, thật sự cô đã dấn thân, cũng như 80 000 thành viên của quân đội Canada và 250 000 công chức dân chánh đã ngày và đêm làm việc để tạo nên sự khác biệt và gìn giữ cho xứ Canada này mãi mãi là vùng đất mà ta đã chọn lựa – Cho chính chúng ta và cho con cháu chúng ta. Thật vậy đó các bạn, bên trong Quân Đội và Công chức cũng có một đời sống linh động lắm, xin mời các bạn hảy dấn bước vào và thưởng thức.
Thiệt là tiếc vì bị hụt kỳ retrouvailles và sinh nhật 400 năm của thành phố Québec lần này. Tôi chắc chắc rằng tất cả các bạn sẽ có được một khoảng thời gian tuyệt vời bên nhau. “Xin các bạn nhớ bảo trọng”…. để dành hơi sức để hưởng thụ nguyên một cuối tuần. Xin đừng lạm dụng “sinh lực tố Bò đỏ” hay “tiên dược màu xanh” (Không tốt cho tim đâu bạn ơi)!
Thời gian này gia đình chúng tôi phải về Việt-Nam lần đầu tiên. Tôi sẽ quan sát và tường trình lại cho các bạn trong số Đất lạnh tới retrouvailles 2008 (?)
Cám ơn và ước mong anh Định, anh Trung, Chí….cùng toàn ban tổ chức: Làm ơn ráng tổ chức kỳ tới lẹ lẹ lên nghe….vì không chắc rằng tất cả mọi người trong chúng ta có thể “tử thủ” chờ đợi lâu hơn không….quá vui và chân thành cám ơn).
Trả lời phỏng vấn của anh Lộ Công Muời Lăm (kèm theo bảng không dấu. Người đánh dấu: Dương Tâm Chí).
Hello anh ChiToi xin phep tra loi phong van cua anh nhu sau:
1. Từ ngày rời Laval đến nay 2007, xin Anh hay Chị cho biết những thay đổi trong cuộc sống của Anh hay Chị cùng với gia đình, như vẫn ở lại Québec hay đã rời sang các thành phố (quốc gia) khác do công việc làm ăn đòi hỏi.
Tôi vẫn còn ở lại Québec.
Nếu còn ở lại Québec, thành phố đó đã thay đổi ra sao và bây giờ nhìn lại mình và gia đình sau mấy chục năm, Anh hay Chị có thể chia xẻ các kỷ niệm lớn trong cùng thành phố đó theo thời gian?
Trong 47 năm sống tại Québec, tôi đã chứng kiến nhiều thay đổi rất lớn tại thành phố Québec: Thành phố mở rộng rất nhiều. Đường xá nhà cửa và "hạ tầng cơ sở" tăng lên gấp 10. Đời sống dân Québec cũng thay đổi rất nhiều. Cách đối xử với người ngoại quốc rất là khác xưa, nhất là sau Super Francofête 1974. Đai học Laval cũng thay đổi và mở mang thêm nhiều lắm, chứ ngày tôi mới đến đây là phải đi học đến 3 nơi. Lúc đó thì thường ngày chúng tôi đi học tại "faculté des sciences" tại boulevard de l'Entente (hiện giờ một phần là CÉGEP Garneau). Có vài cours phải vào campus (Nơi ĐH Laval bây giờ). Tôi còn nhớ tôi phải đi học lớp allemand tại Quartier Latin (faculté des lettres còn ở đó).
Chúng tôi, hồi mới đến ở tại résidence des étudiants (pavillon Moraud). Có người ở tại khu đường Garnier, Vimy, Eymard cho gần boulevard de l'Entente. Có một hôm, sáng sớm từ résidence, chúng tôi xông pha dưới bão tuyết để đến boulevard de l'Entente, nhưng lúc đến nơi thì trường đóng cửa vì bão tuyết quá lớn! Thế là chúng tôi phải lội bộ trở về campus. Trên chemin Ste foy thì tương đối dể đi. Đến ngã ba đầu đường Séminaire thì than ơi tuyết bay mịt mù và đường bị tuyết phủ lấp lên gần tới ngực! Đứng đó nhìn thấy mờ mờ pavillon Moraud ở đầu kia đường mà chúng tôi "rợn xương sống" vì không biết có thể nào đi về đến đó không! Hôm đó chúng tôi ba người đi chung: anh Võ Ngọc Bá, một anh nửa và tôi. Chúng tôi nhờ có "botte aviateur" đi tuyết không lạnh chân. Đi một khoảng thì tôi thấy một antenne xe, lôi lên thì tôi mới biết là tôi đang đạp trên mui một chiếc Volkswagen!
Vừa đến Faculté de Commerce (Sciences de l'Administration bây giờ), chúng tôi phải vào đó trốn gió. Bàn tính với nhau một hồi thì có một anh đề nghị là "trong ba đứa mình nếu chẵng may có đứa nào ngã quỵ xuống thì hai người kia phải tiếp tục chứ không nên bận bịu cho nhau mà chết cả ba!"...
Ngày nay mỗi lần lái xe qua đó là tôi nhớ lại chuyện này. Tôi không hiểu tại sao hồi đó, đi tới đi lui trong campus mà khó khăn như vậy. Chúng tôi phải mua jeton d'autobus để đi từ chổ này qua chổ khác. Tôi còn nhớ có lần đi từ pavillon Moraud sang faculté de Foresterie hay qua Gymnase (médecine dentaire bây giờ) anh Nguyễn Hữu Ty phải lấy foulard che miệng và mũi lại khi đi qua khoảng đất trống trước Faculté de médecine, vì gió mạnh đến nổi không thở nổi! Bây giờ thì với các tunnel giửa các pavillon thì chuyện đó không còn nữa. Người ta lại nói là "có một số sinh viên, tháng septembre dọn vào résidence với vài bộ pyjama và mỗi ngày đi học theo đường hầm không cần phải manteau hay botte gì cả!!!"
Đó là một chuyện vui vui. Và sau đây là một cãm nghĩ của tôi.
Mấy hôm nay tôi tìm lại bộ "báo Đất Lạnh" của tôi đang ở trong thùng mà từ khi dọn nhà 4 năm trước tôi không biết nó ở đâu. Tôi vẫn còn giữ các số báo Đất Lạnh đầu tiên từ năm 1962. Đọc lại số 2 Đất Lạnh (1963) thì mới thấy là trong số đó tôi có viết bài "Nguyên tắc máy tính Điện tử ". Hồi đó tôi học génie nhưng ít khi nào nói đến ngành informatique. Sau khi lấy bằng kỹ sư, tôi lại học tiếp M Sc và Ph D về génie. Tôi nghĩ là cũng sẽ đi làm cho Hydro Québec, Davie Ship Building hay Alcan vì lúc đó tôi có offre của các hảng này. Thế mà năm 1970 ĐH Laval nhờ tôi thành lập Département d'Informatique. Vài năm sau tôi lại thành lập Association canadienne de l'Informatique/Section de Québec và làm président năm 1974. Sau đó tôi lại có dịp thành lập Féderation de l'Informatique và làm président năm 1980 ( lúc mà Québec đang phát triển mạnh về technologie de l'information với chương trình "Bâtir le Québec: virage technologique".
Hơn 3 thập niên dạy về Informatique, trong các chương trình "Hợp tác Quốc Tế" hay Francophonie, tôi cũng có dịp đi các nước Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Mali, Tunisie, Trung Quốc, Úc, Brésil, Uruguay, Argentine và Việt Nam để hợp tác trong các projet de recherche hay giứp họ mở các chương trình dạy hoặc mở trường dạy Informatique.
Thật tôi không ngờ là từ ngày tôi viết bài về "máy tính Diện tử" đến nay là hơn 44 năm rồi.
Thôi cũng khá dài rồi. Nếu anh cần thêm chi tiết gì nữa thì email hay phone cho tôi nha.
Thân mến.
Lộ Công Mười Lăm.
Pr Lam Locong
B Eng,M Sc,MBA,Ph D
1479A Negabamat
Quebec,Qc,Canada,G1T 2V7
Tel.: 418 6516201
Đăng nhận xét